Sự hữu ích của khoa học
Để hiểu rõ cái cách trên, Ba cần vay mượn các kiến thức lượm nhặt được từ khoa học tâm lý, thần kinh. Trước tiên, cần nói rõ rằng: Ba chỉ dùng những mảng ghép nào Ba nhận thấy phù hợp (và dường như là đúng) với con đường đi đến nhất tâm từ kinh nghiệm thiền định mà thôi. Ngoài ra, hãy quy ước với nhau rằng: tâm và thức là một. Dùng chữ tâm hay chữ thức là để cho tiện trong diễn giải mà thôi nhé (vì có lẽ cố phân biệt chúng không giúp ích gì cho thiền định của Ba). Có 3 vấn đề cần trình bày trước khi Ba tổng kết lại cái cách này:
(i) Phân loại ý thức một cách tổng quan,
(ii) Lý thuyết Tải Nhận Thức,
(iii) Sự tập trung chú ý.
1. CÁC LOẠI Ý THỨC
Ba mượn sơ đồ phân loại ý thức của Sigmund Freud bên dưới.[1] Trong cái tảng băng ý thức[2] này thì cái phần nổi, Ý Thức, là cái phần mà các con khỉ vọng tâm nó chạy nhảy lung tung đây vì phần nổi ý thức này bao gồm những suy nghĩ, nhận thức, thấy biết các sự việc, hiện tượng xảy ra trong mình và xung quanh mình một cách rõ ràng, trực tiếp.
Phần bên dưới
(sát mặt nước) của ý thức là Tiềm Thức. Nơi đây lưu trữ những ghi nhớ, kiến
thức học được, tích lũy được. Mặc dù, tiềm thức không được nhận biết trực tiếp
trừ phi mình chủ động khơi dậy nó, nó vẫn có ảnh hưởng đến hành vi tâm lý của
mình một cách gián tiếp.
Sâu hơn tiềm thức là Vô Thức và Tự Ngã. Nơi đây có lẽ là bộ máy chính yếu chi phối tâm lý và hành vi của mỗi chúng ta. Khu vực này chứa đựng các bản năng gốc, bản năng sinh tồn của chúng ta: bản năng về tình dục, bạo lực, các nỗi sợ hãi, sự tự ti, mặc cảm, các ước vọng xấu xa và điên rồ nhất có thể. Đây có lẽ chính là nghiệp lực mà ta không thấy được nhưng nó chi phối toàn bộ cuộc đời của chúng ta.
Xét về ngắn hạn, mục tiêu của việc tập là nhập định thì cái phần nổi của tảng băng ý thức là phần chúng ta có thể (và cố gắng để) kiểm soát. Về dài hạn thì việc giữ giới, tập luyện thường xuyên, không bỏ cuộc, thay đổi dần cách sống, cách sinh hoạt thì hy vọng mình có thể tác động tốt đến tiềm thức và vô thức.
2. LÝ THUYẾT TẢI NHẬN THỨC (Cognitive Load Theory[3])
Sau khi đã xác định được phần ý thức là phần mình phải đánh chìm để tiêu diệt các vọng tâm, mình cần biết cái gì chứa đựng cái ý thức này và cơ chế hoạt động của nó. Dựa theo sơ đồ ý thức ở trên, có 2 nơi chứa đựng cái loại ý thức này: trí nhớ ngắn hạn dùng để chứa đựng ý thức nổi, còn trí nhớ dài hạn dùng để chứa đựng tiềm thức và vô thức. Đặc biệt, trí nhớ ngắn hạn có cơ chế làm việc, gọi là Trí Nhớ Làm Việc (Working Memory, viết tắt là WM) dùng để tiếp nhận và xử lý thông tin, lưu giữ nó trong ngắn hạn (tính bằng giây) để có thể dùng cho bước xử lý tiếp theo (ví dụ như trong việc làm toán). WM có liên quan (đan xen) một cách mật thiết đến ý thức, sự nhận biết, tỉnh giác của mình.[4] WM chính là ngôi nhà tuyệt vời của những con khỉ vọng tâm khi mình tập thiền.
Mà đã là ngôi nhà (nơi chứa đựng) thì WM có giới hạn về không gian (capacity, số lượng bó thông tin để nhớ). Và một khi đã gọi là ngắn hạn thì WM có giới hạn về thời gian có thể lưu trữ thông tin (duration). Như vậy, WM có một giới hạn chịu tải nào đó được gọi chung là Tải Nhận Thức (Cognitive Load, CT). Như vậy CT bao gồm mấy thành phần chính? Theo các nhà nghiên cứu, CT bao gồm 3 thành phần (tải) chính:
(1) Tải Nội Tại (Intrinsic Load, IL). Sức tải này của WM chịu ảnh hưởng bởi bản chất của thông tin. Chẳng hạn như độ khó dễ của một bài toán: giải 2 + 2 = ? thì dễ hơn rất nhiều so với giải 82 + 151/2 = ? Trong trường hợp toán dễ thì WM không cần dùng nhiều không gian cho tải nội tại để giải quyết, xử lý thông tin. Ngược lại, với bài toán khó WM có thể sẽ phải dùng hết toàn bộ tải để tìm ra đáp số.
(2) Tải Bên Ngoài (Exogenous Load, EL). Độ chịu tải này của WM phụ thuộc vào cách thông tin được truyền đến. Ví dụ, thông tin có thể được chuyển đến bằng hình ảnh hoặc âm thanh, một lúc hay ngắt quảng. Hoặc có một yêu cầu nào đó về thời gian mà thông tin phải được xử lý xong (vd. phải giải bài toán khó trong 1 phút). Thông tin chuyển đến một cách càng lộn xộn, phức tạp + áp lực thời gian càng lớn thì WM sẽ phải dùng càng nhiều tải để giải quyết nó.
(3) Tải Hữu Dụng (Germane Load, GL). Nếu thông tin được chuyển đến WM bao gồm nhiều thông tin không liên quan, WM sẽ phải mất năng lượng để thanh lọc và tìm ra các thông tin hữu dụng cho vấn đề cần giải quyết. Chẳng hạn, yêu cầu là tìm các con số 2 rồi cộng lại với nhau. Nếu như thông tin chuyển đến là 1, 4, 2, 45, 26, 2 WM sẽ dùng nhiều tải hơn để lọc so với lượng thông tin là 1, 2, 2.
Ba thành phần tải này của WM sẽ cạnh tranh với nhau để giải quyết một vấn đề vì suy cho cùng tổng tải của WM có giới hạn. Ví dụ, đối với một bài toán khó nhưng thông tin được gởi đến rõ ràng, không thừa thiếu, không có áp lực về thời gian, toàn bộ WM sẽ được dùng cho tải nội tại. Nếu như bài toán rất dễ, thông tin không thừa nhưng yêu cầu thời gian rất ngắn để giải quyết cho xong, có thể toàn bộ WM sẽ bị chiếm hữu và sử dụng bởi tải ngoại sinh. Nếu như bài toán dễ, thông tin đủ, không yêu cầu thời gian nhưng chứa quá nhiều thông tin không cần thiết cho bài toán, có thể WM sẽ phải dùng toàn tải để chọn lọc thông tin trước khi giải bài toán. Tất nhiên trong trường hợp có một bài toán khó, áp lực thời gian cao, thông tin truyền tải bị nhiễu loạn, dư thừa thì toàn bộ 3 tải (IL, EL, GL) sẽ phải cật lực cạnh tranh nhau để chiếm hữu WM, và nếu như toàn bộ WM vẫn không đủ tải để giải quyết vấn đề nó có thể dẫn đến việc WM bị quá tải, bị treo, bị đứng yên, bị sụp đổ.
Cũng nên lưu ý
rằng toàn bộ tải của WM cũng bị ảnh hưởng bởi thời gian
sử dụng. Cụ thể nếu gọi WM có 100% tải tại thời điểm bắt đầu. Qua giây
đầu tiên WM dùng 5% để cố xử lý thông tin về bài toán, WM sẽ chỉ còn 95% cho
giây tiếp theo. Nếu như WM dùng thêm 40% trong giây kế tiếp để tiếp tục với bài
toán thì 55% tải sẽ còn lại để giải quyết cho xong bài toán. Việc cộng dồn tải
này chỉ áp dụng trong một khoản thời gian nào đó thôi (bao lâu thì Ba không
biết) vì nếu lề mề giải quyết một bài toán thì có thể chẳng thể làm WM quá tải
được.
(Hết phần 3/8)
Ghi chú:
[1] Wilhelm Wundt (German), William James (American), và Sigmund Freud (Austrian) được xem như những cha đẻ của ngành Tâm lý học hiện đại. https://en.wikipedia.org/wiki/Sigmund_Freud;
[2] https://www.simplypsychology.org/Sigmund-Freud.html; http://bvtt-tphcm.org.vn/vo-thuc-va-suc-manh-cua-no/
[3] Xem Sweller, Ayres, and Kalyuga, 2011. Cognitive Load Theory. ISBN: 978-1-4419-8126-4. Publisher: Springer-Verlag New York. https://www.springer.com/gp/book/9781441981257. Ngoài ra có lý thuyết về Tải Cảm Giác (Perceptual Load Theory), https://en.wikipedia.org/wiki/Perceptual_load_theory. Nhưng dường như lý thuyết này không khác là mấy với CLT. Xem Sorqvist, Dahlstrom, Karlsson, and Ronnberg, 2016. Concentration: The neutral underpinnings of how cognitive load shields against distraction. Frontiers in Human Neuroscience 10, 1–10.
[4] Một số nghiên cứu cũng còn đang tranh cãi về thành phần vô thức trong WM. Xem Persuh, LaRock, and Berger, 2018. Working memory and consciousness: The current state of play. Frontiers in Human Neuroscience 12, 1–11.
