Scientific Meditation – Tâm với Thức!


Nếu như Giới là điều kiện cần và Định là điều kiện đủ để phát sinh Huệ thì Định là gì? Tập Định là tập cái gì? Nhập định là gì? Nhất tâm là nhất cái tâm gì? Trạng thái nhất tâm là thế nào? Làm gì để đạt được trạng thái đó?


1. Ôi, Tâm với Thức!


Tâm là cái gì, Thức là cái chi chi: chắc chỉ có Phật biết, các sư phụ đắc đạo biết 😊. Ba chịu, không định nghĩa được chứ đừng nói biết được nó nằm chỗ nào. Đọc sách Vi Diệu Pháp và sách Đức Phật và Phật Pháp, Ba thấy rất hay, hiểu hơn một chút về các loại tâm, tiến trình tâm, cấu tạo của tâm ở các cõi giới khác nhau. Nhưng cái hay này cũng chỉ dừng ở góc độ của một người ‘đọc’. Muốn hiểu tường tận thì cần ‘hành’, tức là tập thiền và quan sát chúng. Cái này cần rất nhiều thời gian, công sức, và cách thức để hiểu cho đúng nữa.


Dựa trên sự giải thích của anh Alpha, Ba bẻ lái qua một số (chứ không thể đọc tất cả) kết quả nghiên cứu khoa học tâm lý và thần kinh để tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên. Phải công nhận rằng:


(i) Ngành tâm lý, thần kinh, phân tâm học, v.v. sinh sau đẻ muộn rất lâu sau khi Đức Phật Sakyamuni ra đời và đắc đạo.

(ii) Các nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực tìm hiểu cái tâm, cái thức này hầu hết đều dựa trên một nhóm nhỏ các đối tượng. Các kết quả rất có thể không thể áp dụng đại trà cho các đối tượng không thuộc nhóm đối tượng nghiên cứu.

(iii) Các kết quả nghiên cứu nhiều khi cũng khác nhau do điều kiện nghiên cứu, dụng cụ đo lường, đối tượng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, v.v. thay đổi. Vì vậy, các nhà nghiên cứu phát minh ra đủ các loại mô hình, công thức để giải thích và dự đoán tâm thức, hành vi của con người.

(iv) Trên tất cả, cái tâm là gì, thức là gì cũng vẫn còn là vấn đề tranh cãi ở cấp độ định nghĩa chứ đừng nói đến, các vấn đề về vị trí, cấu tạo, và tác dụng của chúng.[1]


Nêu ra các nhận định như trên để thấy rằng nghiên cứu về tâm phức tạp đến mức nào. Khoa học còn mất dài dài thời gian để (hy vọng) hiểu được nó. Nhưng biết đâu khoa học có thể là một kênh thông tin có ích cho việc tu tập, giúp ích cho việc giải mã những ẩn ý trong Vi Diệu Pháp mà thời Đức Phật không có công cụ khoa học để diễn giải.[2]


2. Kinh nghiệm nhất tâm


Nếu như dẹp bỏ cái rắc rối về định nghĩ của tâm, thức, sự giống khác về vị trí, vai trò, và tác dụng của chúng mà chỉ tập trung trả lời các câu hỏi trên thì Ba thấy rằng (dựa trên việc tập của chính bản thân):


(1) Trạng thái nhất tâm là trạng thái phẳng lặng, y như mình đang đứng giữa một cách đồng mênh mông trong đêm tối tịch mịch. Chủ yếu chỉ nghe tiếng o…o…o (hay đại loại vậy). Tùy theo sự nông sâu của trạng thái này, mà mình có thể nghe âm thanh bên ngoài (do người nhà, động vật, v.v.) hay những gợn tâm đột ngột phát sinh từ bên trong (như suy nghĩ một sự việc gì đó mà mình còn dỡ dang, lấn cấn trong đời sống). Chất lượng nhất tâm càng tốt sự tĩnh lặng càng dầy, gợn tâm càng ít, tác động của âm thanh bên ngoài càng yếu. Nhất tâm tốt sẽ xuất hiện lạc, thân thể sẽ nhẹ nhàng. Lạc đến mạnh thì như những đợt sóng tê tê người, đặc biệt ở phần ngực.


(2) Để vào được trạng thái nhất tâm thì buộc mình phải dẹp bỏ các vọng tâm. Giới mà kém, đời sống mà lộn xộn, công việc mà bề bộn, nhiều thứ để lo, nhiều mối quan hệ để xả giao (hay làm vừa lòng) thì vọng tâm như một bầy khỉ lớn nhảy nhót lung tung, không thể kiềm chế hoặc đuổi đi. Một khỉ là đã khó, hai khỉ là khó gấp bội,…, một đàn khỉ đông thì làm sao đây? Bỏ đi chỗ khác (xả thiền chờ dịp khác) hay ngồi nhìn tụi nó nhảy múa cho vui vậy.


Có một cách khác để giải quyết cái đám khỉ này: thu hẹp/triệt tiêu không gian sống của chúng. Nếu như mình nghĩ cái tâm của mình như một chiếc thuyền lớn trên biển và cái đám khỉ (vọng tâm, tâm lăn xăn) nhảy múa lung tung trên đó, thay vì cầm chổi mà rượt theo đuổi tụi nó (thì vô phương) mình chơi độc địa hơn: nhấn chìm con thuyền. Khi thuyền chìm dần thì không gian cho vọng tâm hiện hữu bị thu hẹp dần. Đến một lúc nào đó, khỉ cũng chẳng còn chỗ để đứng chứ đừng nói nhảy, vọng tâm cũng biến luôn.


(Hết phần 2/8)


Ghi chú:


[1] Xem Morsella, Godwin, Jantz, Krieger, and Gazzaley, 2016. Homing in on consciousness in the nervous system: An action-based synthesis. Behavioral and Brain Sciences, 1–70. Trong nghiên cứu này, các tác giả đưa ra một lý thuyết hoàn toàn mới về ý thức: Passive Frame Theory (tạm dịch: Lý thuyết Khung Thụ Động). Theo đó, ý thức chẳng qua đóng vai trò thụ động như kẻ trung gian, truyền dẫn tín hiệu hành vi hơn là giữ vai trò chủ động trong việc tạo ra hành vi như các lý thuyết trước đây.

[2] Ba chưa tìm đọc các nghiên cứu về tác dụng của thiền định lên ý thức. Nhưng dường như kết quả giúp hiểu biết cũng không mấy khả quan khi Ba lướt qua một vài phần liên quan trong Schneider and Velm, 2017. The Blackwell Companion to Consciousness. John Wiley & Sons. Khi nào có dịp/duyên Ba sẽ tìm hiểu kỹ hơn cuốn này: James, 1902. The varieties of religious experience: A study in human nature. New York.