Lý thuyết Can Thiệp (Interference Theory, IT)[1]
Các kiến thức về WM, Tải Nhận Thức (CLT), Sự Chú Ý mà Ba đã thu lượm và trình bày ở lần trước giúp mình hiểu rõ về các yếu tố ảnh hưởng đến tải của WM, và với nỗ lực của sự Chú Ý Chủ Động (Active Attention) mà Ba vận dụng hiệu quả các yếu tố này. Lần này, Ba muốn mượn kiến thức về IT trong sách của Sternberg & Sternberg để trình bày sự liên hệ của cách tập này (qua 2 ví dụ trên) và định luật tâm lý về quên.
Lý thuyết Can Thiệp (IT) nói về sự quên xảy ra khi việc cố nhớ các thông tin này ngăn cản việc nhớ lại các thông tin khác.[2] Có 2 loại IT: Proactive Interference (PI, tạm dịch là nhớ cũ quên mới) và Retroactive Interference (RI, tạm dịch là nhớ mới quên cũ). PI xảy ra khi các thông tin, kiến thức đã có, đã tích lũy được từ trước ngăn cản việc (học và) nhớ các thông tin mới. RI xảy ra khi các thông tin mới học được ngăn cản việc nhớ lại các thông tin đã tích lũy từ trước.
Vậy các yếu tố nào ảnh hưởng đến PI và RI? Theo các kết quả nghiên cứu, nhìn chung có một số yếu tố đáng chú ý sau:
(1) Độ dài của từng thông tin: LXVII sẽ gây trở ngại lớn hơn so với XII.[3]
(2) Số lượng các thông tin chen ngang (Intervening Item) càng nhiều sự ngăn cản càng lớn.[4]
(3) Khoảng cách thời gian giữa lúc mới thu nạp thông tin và lúc bắt đầu cố nhớ lại. Khoảng cách này càng lớn thì sự quên càng cao. Đây cũng chính là quy luật tự nhiên của trí nhớ: Theo thời gian, vết tích thông tin khắc trong trí nhớ (Memory Trace) trở nên mờ dần và mất đi nếu chúng ta không làm gì để gợi lại hoặc củng cố thông tin đó. Lý thuyết liên quan đến cái này gọi là Decay Theory.[5]
(4) Số lần lặp lại thông tin đó. Càng ít lặp lại (ôn lại) càng khó nhớ lại.
(5) Sự giống nhau giữa thông tin cũ và mới. Càng giống nhau càng dễ nhầm lẫn.[6]
(6) Chất lượng, sự nổi trội tương đối giữa thông tin cũ và mới cũng là yết tố trở ngại khi cố ghi nhớ hoặc nhớ lại.
Hãy dùng những yếu tố này để giải thích cho việc nhập định trong ví dụ 2 ở trên.
+ Khi Ba bắt đầu chọn và ghi nhớ những con số Latin và màu sắc của chúng. Độ dài của toàn bộ dãy số, số lượng màu sắc thay đổi, thời gian ghi nhớ của từng con số, sự gần giống của các số (vd., X) về màu sắc, và việc nhẩm đi nhẩm lại các con số này thực chất đã hội đủ cả 6 yếu tố kể trên.
+ Khi bắt đầu nằm tập, việc chỉnh sửa quần áo, chăn mền cho khỏi cấn thì thời lượng 1 phút cũng đã qua (yếu tố 3). Việc cố gắng nhớ lại và vẽ từng nét với màu sắc tương ứng sẽ kéo dài thời gian chờ đợi của những số, màu tiếp theo. Điều này sẽ kích hoạt hiện tượng nhớ mới quên cũ (RI). RI trầm trọng hơn khi vẽ LXVII vì nó dài hơn (yếu tố 1).
+ Tiếp theo khi cố nhớ lại và vẽ từng nét của XII, hiện tượng nhớ cũ quên mới (PI) xảy ra vì một phần tải của WM đã được sử dụng để ghi nhớ LXVII, làm cho việc vẽ lại XII theo đúng màu sắc của nó khó hơn. Hơn nữa, đối với XII thì LXVII chính là 1 yếu tố chen ngang (yếu tố 2). Sự gần giống về màu sắc của X giữa các số cũng làm cho việc nhớ lại chính xác màu của X trong XII khó hơn (yếu tố 5).
+ Khi Ba bắt đầu sắp xếp, lắp ghép các thành phần trong LXVII và XII với nhau để tạo ra các yếu tố mới thì mặc dù mình có dịp lặp lại, ôn lại các thành phần này (yếu tố 4) nhưng số lượng các yếu tố mới gây trở ngại cho việc nhớ lại càng nhiều, thời gian củng cố (consolidate) ghi nhớ các yếu tố mới này không cao, và tải của WM phải vận dụng để chứa chúng càng giảm, WM càng cảm thấy mệt mỏi. Đến lúc này chỉ cần tác ý muốn cộng các số cũ mới lại với nhau là chắc chắn đứng hình. Hoặc nếu cố nhớ các số còn lại LIX, VI, IV và màu sắc của chúng, WM cũng sẽ bị treo, không thể làm việc tiếp được (yếu tố 6).
Tóm lại, việc tập quán các con số trước sau, tới lui, trộn lẫn trong ví dụ trên rất phù hợp với các định luật tâm lý về trí nhớ trong Lý thuyết Can Thiệp và dẫn đến nhập định. Hiểu về IT và CLT là phục vụ cho mục đích nâng cao hiệu quả trong việc học. Nhưng đối với tập thiền, mình vận dụng những kiến thức này và đi ngược lại tính hiệu quả đó để nhập định.
(Hết phần 4/11)
Ghi chú:
[1] Sternberg, R. J., and Sternberg, K. (2017). Cognitive Psychology (7th ed.). Boston, MA: Cengage Learning. Xem phần ‘Quá trình quên và sự bóp méo trí nhớ’ ở trang 222. Xem thêm https://www.cleverism.com/proactive-and-retroactive-interference-explained/.
[2] Các nghiên cứu về IT đã có từ cuối những năm 1950s hoặc cũng có thể sớm hơn thế nữa. John A. Bergström được xem như là người tiên phong về lý thuyết này, https://en.wikipedia.org/wiki/Interference_theory; https://en.wikipedia.org/wiki/Hermann_Ebbinghaus.
[3] Xem Derks, P.L, 1974. The length-difficulty relation in immediate serial recall. Journal of Verbal Learning and Verbal Behavior 13, 335–354. Kết quả trong bài này cho thấy chỉ cần tăng gấp đôi độ dài của dãy số, thời lượng cần thiết để nhớ được tăng lên 6 lần.
[4] Xem Murre, J.M.J., and Dros, J., 2015. Replication and analysis of Ebbinghaus’ forgetting curve. PLOS ONE 10(7), 1–23. Rubin, D.C., Hinton, S., and Wenzel, A., 1999. The precise time course of retention. Journal of Experimental Psychology: Learning, Memory, and Cognition 25(5), 1161–1176. Các bài này trình bày các phương trình số mũ (power functions) để đo lường khả năng nhớ lại (Recalling Probability) các thông tin trong ngắn hạn và dài hạn dưới sự tác động của các thông tin chen ngang. Table A1, trang 1175 trong Rubin et al (1999) cho thấy rằng chỉ cần 4 thông tin chen ngang (ý là sau khi mình đã nhớ thông tin A, rồi có thêm B, C, D và E nữa. B, C, D, và E là các thông tin chen ngang) thì khả năng nhớ lại (A) đã giảm xuống còn 38%. Với 7 thông tin chen ngang, khả năng nhớ lại rớt xuống còn 34%.
[5] https://en.wikipedia.org/wiki/Decay_theory. Xem thêm Keppel, G., and Underwood, B.J., 1962. Proactive inhibition in short-term retention of single items. Journal of Verbal Learning and Verbal Behavior 1, 153–161. Peterson, L.R., and Peterson, M.J., 1959. Short-term retention of individual verbal items. Journal of Experimental Psychology 58(3), 193–198. Kết quả trong 2 bài nghiên cứu này cho thấy rằng sau 3 giây thì khả năng nhớ lại một nhóm 3 chữ không có vần (vd., K B F) chỉ đạt 80%. Sau 18 giây thì khả năng này chỉ còn khoảng 10% mà thôi. Hơn nữa, sự giảm dần khả năng nhớ lại theo thời gian qua đi mạnh nhất trong khoảng 10 giây đầu.
[6] Xem Cybenko, A.K., 2011. Interference in a modified recognition task: An evaluation of the changed-trace and multiple-trace hypotheses. PhD thesis.
