Scientific Meditation – Sự Chú Ý


SỰ CHÚ Ý (Attention)


Nếu muốn nhớ và quán ra con số (Tầm), rồi làm toán và tiếp tục làm toán (Tứ) thì bắt buộc mình phải chú ý và tập trung bám chặt vào việc cần làm.[1] Kẹt một điều là sự chú ý của mình hay bị phân tán, réo gọi từ đủ loại kích thích: ngoại cảnh như tiếng ồn từ giọng nói, bước chân đi, tiếng cửa đóng mở, chó mèo kêu, vợ con réo gọi, và nội cảnh như chuyện nóng lạnh, ngứa ngáy, nhạt miệng, đau/đói bụng, mắc tiểu, v.v. Chưa kể đến nghiệp lực bất chợt trổ ra (?). Để đấu tranh lại với toàn bộ cái này và ‘giành’ sự chú ý của mình bám vào bài toán thì mình nên hiểu về các yếu tố tác động đến nó.[2]


Vì sự chú ý gắn liền với nhận thức nên nó cũng có giới hạn. Ở mỗi thời điểm, có hàng tỉ các sự vật và hiện tượng xảy ra xung quanh mình. Nếu mình cố chú ý vào tất cả thì chỉ có điên. Theo bản năng tự nhiên, bộ não sẽ chỉ chú ý vào một số kích thích nào đó thôi (Selective Attention) và sẽ bỏ qua các kích thích khác. Các nhà nghiên cứu phân loại sự chú ý theo một vài cách khác nhau, Ba chỉ tập trung vào cách phân loại sau: sự chú ý thụ động và sự chú ý chủ động.


(1) Sự chú ý thụ động (Passive Attention). Đây là sự chú ý được tạo ra bởi các yếu tố bên ngoài, không thuộc chủ ý của mình. Các yếu tố này có thể là:

     (1.1) Âm thanh. Tiếng ồn, giọng nói là những thứ mà mình không thích chen vào trong tập thiền. Các âm thanh tầng số cao, thay đổi tầng số không cố định, hỗn tạp đủ loại rất dễ gây phân tâm, phân tán sự chú ý của mình. Âm thanh từ người mình thương yêu ít gây khó chịu, phân tâm hơn là từ người mình không thích 😊.[3] Tương tự các âm thanh có ý nghĩa tích cực thì ít phân tâm hơn các âm thanh mang ý nghĩa tiêu cực.[4] Dù sao thì tạp âm càng nhiều thì cái vọng tâm nó nhảy disco càng hăng.

     (1.2) Hình ảnh. Màu sắc, chuyển động, hướng, và kích cỡ là những yếu tố nổi bậc của hình ảnh (Image) dễ lôi kéo sự chú ý. Ngoài ra, còn vô số các đặc tính khác (vd. đường vân, độ sáng tối, hình dáng) của một hình ảnh có tác động gây chú ý, chúng chỉ khác nhau về cấp độ lôi kéo chú ý thôi.[5] Tất nhiên, khi tập thiền thì mình nhắm tịt mắt thì cái yếu tố hình ảnh gây chú ý thụ động này không tính được. Nhưng nếu mình nhìn các con số trước khi tập thì mình nên lưu ý đến các yếu tố này để giúp mình nhớ (hoặc gây khó khăn trong việc nhớ lại) khi vào tập (xem lại phần các yếu tố ảnh hưởng đến tải WM).


(2) Sự chú ý chủ động (Active Attention). Đây là sự chú ý do bản thân mình muốn vậy. Các yếu tố nội tại có thể là:

     (2.1) Độ khó, phức tạp của vấn đề đang cần suy nghĩ, bài toán đang làm. Phần Tải Nhận Thức giúp mình tạo ra bài toán này.

     (2.2) Mục tiêu cần đạt được (Goal, Expectation). Ví dụ, mình cần làm phép tính này cho xong để chuyển qua phép tính khác, hoặc mình đặt mục tiêu phải làm xong bài toán trong vòng 2 phút (áp lực thời gian).

     (2.3) Sự yêu thích, quan tâm. Mình thích thử thách, giải các bài toán khó và mình muốn xem cái bài toán sẽ đi đến đâu.[6] Lưu ý là thích làm toán dễ thì cũng là thích nhưng chẳng làm WM quá tải được.

     (2.4) Lợi ích. Việc gì đó có mang lại lợi lộc cho mình thì cũng gây sự chú ý.[7] Tất nhiên, trong tập thiền thì mình không đề cập đến tiền bạc được. Nghĩ về lợi lạc ở đây là được nhập định, hưởng cái trạng thái nhẹ nhàng, tĩnh lặng (để sau này còn đạt được sự thanh tịnh cao hơn thế nữa. Yếu tố Santi.).

     (2.5) Quyết tâm, nỗ lực, và sự kiên trì cũng là những yếu tố rất quan trọng để gom tâm, hướng sự chú ý vào bài toán. Khi sự chú ý càng mạnh thì độ tập trung càng cao, càng vững. Lúc đó, mình sẽ dễ dàng bỏ qua các kích thích gây phân tâm (bên trong và bên ngoài).[8]


Ngoài sự phân loại trên, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến một cách phân loại khác rất hữu ích dựa vào không gian quan sát (Spatial Attention). Mấy bữa nay trong lúc nhập định Ba kiểm tra quan sát thì hiểu rõ hơn về cái này. Nó bao gồm:


(3) Sự chú ý trực diện rõ ràng (Overt Attention). Cụ thể, khi nhất tâm nếu Ba hướng cái thấy vào thẳng một điểm cụ thể trong không gian gần trước mặt (khoảng 1, 2 gang tay gì đó) thì cái chú ý này là cái chú ý trực diện, cụ thể và rõ ràng. Tức là Ba phải biết cái điểm đó nó ở chỗ nào và ‘con mắt’ nhìn thẳng vào điểm đó. Khi giữ vậy một lúc thì cái lạc nó tới như đợt sóng, đến rồi đi, rồi nhẹ nhẹ, rồi ào đến tiếp tùy theo chất lượng của nhất tâm.


(4) Sự chú ý không trực diện (Covert Attention). Đây là nhìn về một hướng nhưng không cụ thể chú ý vào điểm nào và/hoặc sự chú ý lại ở một nơi khác. Kiểu như học sinh mắt thì nhìn cô giáo giảng bài nhưng tâm thì ở tận đâu đâu vậy, hoặc là tâm lại chú ý vào một bạn nữ nào đó 😊. Trong lúc đang nhập định, Ba có thể chuyển sự chú ý từ điểm sang vùng không gian hoặc Ba có thể hướng cái nhìn vào khoảng cách gần nhưng đẩy cái sự chú ý vào một điểm trong không gian xa xa.[9] Vậy chất lượng của lạc khi so sánh giữa 2 cách chú ý này thì sao? Cũng tùy. Nếu nhất tâm tốt thì Ba thấy cái lạc nào cũng giống nhau, nhưng đôi khi cái chú ý bao quát làm cái lạc nó mạnh hơn (và có vẻ rộng ra hơn).[10] Nếu chất lượng nhất tâm chưa tốt lắm thì cái chú ý bao quát sẽ dễ bị lôi kéo, bị phân tâm hơn. Vì vậy, khi đang ở giai đoạn gây hiệu ứng quá tải của WM thì chú ý trực diện là cách hiệu quả nhất. 


(Hết phần 5/8)


Ghi chú:


[1] Thầy Tibu có nói rất nhiều lần là: “Bắt cái tâm làm theo ý mình”.

[2] Ba chủ yếu dùng thông tin từ bài nghiên cứu sau. Carrasco, 2011. Visual attention: The past 25 years. Vision Research 51, 1484–1525.

[3] Liên hệ cái này với chuyện tu tập với tiếng chuông trong HSTĐ.

[4] Xem Marsh, Perham, and Hughes, 2018. Postcategorical auditory distraction in short-term memory: Insights from increased task load and task type. Journal of Experimental Psychology: Learning, Memory, and Cognition 44(6), 882–897.

[5] Xem Wolfe, Horowitz, 2004. What attributes guide the deployment of visual attention and how do they do it? Perspectives 5, 1–7.

[6] Xem Navalpakkam, Kumar, Li, and Sivakumar, 2012. Attention and selection in online choice tasks. Springer-Verlag Berlin Hedkelberg.

[7] Xem Anderson, Laurent, and Yantis, 2011. Value-driven attentional capture. PNAS 108(25), 10368–10371.

[8] Xem Sorqvist, Dahlstrom, Karlsson, and Ronnberg, 2016. Concentration: The neural underpinnings of how cognitive load shields against distraction. Frontiers in Human Neuroscience 10, 1–10. Sorqvist, Marsh, 2015. How concentration shields against distraction. Current Directions in Psychological Science 24(4), 267–272.

[9] Hiểu được cái này cũng giúp Ba giải được cái điều mà trước đây Ba có nói với Thầy Tibu là “không hiểu sao cái nhìn của con nó cứ ở đằng sau”.

[10] https://qz.com/1503207/a-nobel-prize-winning-psychologist-defines-happiness-versus-satisfaction/. Xem bài phỏng vấn này cũng thú vị để biết sự phân biệt giữa hạnh phúc và sự thỏa mãn khác nhau thế nào.