Lý Thuyết Cầu Thang Xoắn Vô Tận (Infinite Spiral Staircase Theory, ISST)
Vai trò của ý thức trong vũ trụ thế nào? Có hay không sự tồn tại của ý thức bên ngoài (độc lập) với não bộ? Có phải mọi vật thể đều có ý thức hay chỉ có động vật?[1] Những câu hỏi này đã tồn tại và là chủ đề tranh luận, nghiên cứu của bao nhiêu là ngành học khác nhau (từ tâm lý học, thần kinh học, …, cho đến khoa học lượng tử). Ba không bàn tới hay tham gia tranh luận về cái này trong khoa học (vì có biết đâu mà luận với tranh). Tuy nhiên, trong quá trình tìm tòi đọc về cảnh giới, Ba đọc được các nghiên cứu của Chris H. Hardy.[2] Trong số đó có ISST[3], một lý thuyết Ba rất thích vì dường như nó phù hợp với cái mình đang tìm, và nó tổng hợp hài hòa, hợp lý các lý thuyết sẵn có. Ba xin tóm tắt lại nội dung của ISST ra đây để dành làm tư liệu tham khảo (nhớ rằng những cái này không phải là sự thấy biết của chính Ba). Phần ghi chú (comment) là phần Ba liên tưởng đến hoặc nhớ lại các điều mà Ba đã từng nghe qua.
(1) Tiền đề
+ Các lý thuyết trước đây chỉ tập trung giải quyết về thế giới vật chất thông thường (phân tử, nguyên tử, các vì sao, các giải thiên hà) cấu tạo nên chỉ 5% toàn bộ năng lượng của vũ trụ. 95% năng lượng còn lại là từ Năng Lượng Tối (Dark Energy) và Vật Chất Tối (Dark Matter)[4] mà khoa học vẫn chưa biết được rõ ràng chúng là gì, tương tác ra sao với phần còn lại.
Comment: Giống cái Mun kể trong pháp âm Vat-Chat-Toi-duoi-Goc-nhin-dao-Phat.mp3[5], trong đó Mun nói vật chất tối là cái tâm, cái tư tưởng của con người.
+ Hơn nữa, hiện tượng ‘Rối Lượng Tử’ (Entanglement)[6] trong ngành cơ học lượng tử (Quantum Mechanics, QM), 2 lượng tử trong cùng một cặp dường như có thể thông tin cho nhau dù khoảng cách có xa bao nhiêu đi chăng nữa (ý là thông tin truyền tải nhanh hơn tốc độ ánh sáng, non-locality), vẫn là một hiện tượng mà Thuyết Tương Đối (General Relativity, GR) của nhà bác học người Đức Albert Einstein không thể giải thích được trong điều kiện hệ quy chiếu 4 chiều (3 chiều không gian + 1 chiều thời gian) mà mình đang sống.[7]
+ Nghiên cứu của tiến sĩ người Anh Alfred Rupert Sheldrake về tính Cộng Hưởng Hình Thái (Morphic Resonance)[8], một dạng trí nhớ trong tự nhiên, dường như cùng chung quan điểm với nhiều nghiên cứu trước đây[9] về sự tồn tại của ý thức trong tự nhiên.
(2) Nội dung chính
Những điều trên tạo tiền đề cho một lý thuyết mới để thống nhất, và giải quyết được sự thiếu nhất quán giữa những lý thuyết hiện có. Cộng với những giả định về khả năng tồn tại của những thực thể khác, những băng tầng ý thức khác, và thậm chí là một cái Hồn sau khi chết (có lẽ dựa trên khả năng thấy biết qua thiền định của bà[10]), TS. Hardy đã đưa ra Lý thuyết Cầu Thang Xoắn Vô Tận (ISST), trong đó có những điểm thú vị như sau:
+ Có một Siêu Hệ (Hyperdimension, HD) gồm: Siêu Không Gian (Hyperspace), Ý Thức (Consciousness) và Siêu Thời Gian (Hypertime).
+ Khi một Siêu Hệ chết đi và cô đặc lại thành một lỗ đen (Black Hole), chuyển đổi trang trạng thái lỗ trắng (White Hole) trước khi bùng nổ với tốc độ cực lớn để hình thành một Siêu Hệ mới mang theo toàn bộ những thông tin (ý thức) đã tích lũy được từ Siêu Hệ trước đó (cosmic DNA).
Comment: Sự chuyển đổi trạng thái này kiểu như thức Hộ Kiếp, Nối Liền, và Tái Sanh ở cấp vũ trụ đây nhỉ. Phải chăng, khi anh Ba Danh tập quán điểm nhỏ xíu dẫn đến bùng vỡ, thì chính là lúc cái Hồn riêng của anh hòa hợp với cái Hồn của vũ trụ dẫn đến Trí Tuệ Bát Nhã? Cách tập này là một cách tập đi về cội, trở về cái rốn của vũ trụ chăng?
+ Siêu Hệ có hình xoắn ốc dựa trên chỉ số phi (φ = 1.618) theo tỉ lệ vàng, và lớn dần ra theo dạng của dãy số Fibonacci.[11] Mỗi khúc quanh của hình xoắn này (chẳng hạn khúc quanh trong hình vuông JIEB) mang một độ dài bán kính (radius) khác nhau, và vì thế rung động theo một tần số khác nhau.
+ Ở gần gốc của Siêu Hệ[12], tần số rung động là cực lớn, hơn 1043 (10 lũy thừa 43) lần trong một giây. Càng xa gốc của Siêu Hệ, tần số rung động càng thấp dần, và bước sóng càng dài ra. Cho nên, ngôn ngữ của vũ trụ là nhạc với cường độ là những vòng xoay, sự cộng hưởng, và rung động sóng. Toàn bộ vòng xoắn và mỗi khúc quanh đơn lẻ (bow) cấu thành siêu không gian (hyperspace, Center-Circle), các rung động cấu thành siêu thời gian (hypertime, Rhythm-Rotation), và toàn bộ thông tin chứa đựng trong chúng cấu tạo nên phần ý thức, cái Hồn của vũ trụ (Self HD, Syg HD).
Comment: Anh Alpha (và Mun) có nói rằng tất cả lực tương tác trong vũ trụ đều có hình xoắc ốc cả. Thầy Tibu có nói đâu đó về việc lắng nghe âm thanh và màu sắc của vụ trụ khi chỉ cho tu sĩ nào đó tập. Mỗi bow với tần số rung động riêng biệt của nó sẽ tạo điều kiện thích hợp để một cảnh giới nào đó phát sinh, tồn tại chăng?!
+ Khúc đoạn đầu của Siêu Hệ chưa có sự hiện hữu của các hạt (particle). Chỉ từ giai đoạn sau đơn vị đo lường Planck, hạt bắt đầu xuất hiện. Càng ra xa gốc, nguyên tử, phân tử, vật chất dần dần được hình thành và cuối cùng tạo nên hệ quy chiếu mà chúng ta đang sống.
Comment: Theo ISST thì chắc là còn những hệ quy chiếu khác xa hơn chúng ta. Nhưng dạng vật chất của những hệ quy chiếu xa hơn này là gì? Nặng hơn hay nhẹ hơn? Tương quan thế nào đến tần số thấp hơn và bước sóng dài hơn của chúng? Vì theo ISST, dường như có sự tương quan nghịch chiều giữa tâm (tần số, bước sóng) và sắc (vật chất). Có thể rằng, chỉ khi tâm yên lặng thì mình mới cảm nhận được mọi rung động khác.
+ Mỗi bow của Fibonacci tạo nên một hệ thống vừa phụ thuộc vừa độc lập với gốc của Siêu Hệ. Phụ thuộc vì các hệ thống này cùng một gốc mà sinh ra. Hơn nữa, chúng cũng liên tục tương tác, trao đổi thông tin với trung tâm của Siêu Hệ. Vì thế, lượng thông tin tại Trung Tâm không mất đi mà càng ngày càng dồi dào. Các hệ thống này cũng độc lập vì chúng có sự tự do tổ chức, chỉnh sửa, thay đổi, và phát triển theo những con đường riêng. Tất nhiên, trong mỗi bow hệ thống này là vô vàn các hệ thống nhỏ hơn (sỏi đá, cây cỏ, …, con người) mang trong mình những ý thức, cái Tôi riêng biệt. Lý thuyết ISS loại bỏ sự tồn tại của một đấng kiến tạo (creator god). Hơn nữa, chính vì sự tương tác năng động giữa các hệ thống nhỏ hơn và lớn hơn mà tương lai không có gì là mặc định, chắc chắn cả (ý là không phải định mệnh).
Comment: Anh Alpha có từng nói “Không có cái gì từ hư vô mà tới” khi ảnh suy nghĩ về phương pháp tập thiền. Thầy Tibu có nói đâu đó là anh Phước Nhỏ bị kẹt vào suy nghĩ về định mệnh. Có hay không có định mệnh có lẽ không phải là câu hỏi chính xác. Câu đúng hơn là bao nhiêu % là định mệnh, bao nhiêu % là khả năng có thể thay đổi định mệnh đó? Và tất nhiên các xác suất này có thể thay đổi theo thời gian. Tốt nhất là không nên hỏi: Nhớ câu chuyện người bị mũi tên độc bắn trúng?[13]
+ Ở cấp độ con người cũng vậy: là một hệ thống con trong Siêu Hệ, mang trong mình đủ loại hệ thông tin (syg field) với đủ loại tương tác năng động (tâm, sắc, và các mối quan hệ). Cái tôi (chữ thường, ego) của mỗi chúng ta phần lớn nhằm đối phó với các mối quan hệ, tương tác trong thế giới vật chất và xã hội mà thôi. Thông qua quá trình tu tập (vd., thiền định), quy hướng vào trong (individuation process) mà cái tôi mới phát triển thành cái Tôi (Self) và chủ động hòa nhịp được với cái Hồn rộng lớn của vũ trụ. Theo ISST, chết cũng chẳng qua là bỏ đi cái phần vật lý sinh học, cắt đứt mối liên hệ giữa cơ thể vật chất khỏi cái Tôi và hệ thông tin đi kèm với cái Tôi đó. Hơn nữa, nhìn ở góc độ ý thức vũ trụ, lý thuyết ISS không dẫn đến việc phán xét và trừng phạt các linh hồn sau khi chết mà chỉ đơn thuần là quá trình học tập, chịu trách nhiệm, và chỉnh sửa cái Tôi để trở nên hoàn thiện hơn.
Comment: syg-field gồm nghiệp lực trong quá khứ + nghiệp lực (tốt và xấu) tạo ra trong kiếp hiện tại. Thầy Tibu có từng nói trước đây là thực ra địa ngục không tồn tại kiểu như mình thấy người này bị cắt lưỡi này nọ, mà họ (linh hồn) đó tự cảm thấy như vậy do nghiệp quả họ tạo nên. Điều này có lẽ phù hợp với ISST vì tất cả những hành động, lời nói, quan hệ, thương yêu, ghen ghét của mình đều được gói gọn trong cái syg-field của mình để rồi những thói quen đó sẽ tái xuất trong kiếp sống sau. Khái niệm Cửu Huyền Thất Tổ cũng có thể từ đây mà ra, i.e. từ cái syg-field của tình yêu thương gia đình là nó sẽ sống dậy. Bé Hạt Tiêu: “Mình phải chịu trách nhiệm cho hành động của mình”.
+ Phần cuối bài đăng trên Scientific GOD Journal, TS. Hardy có chỉ ra rằng tại khoảng đầu (sinh ra) và cuối (suy tàn) của Siêu Hệ, và khu vực bao trùm xung quanh hệ quy chiếu mà chúng ta đang sống (Quantum Spacetime, QST) là những khu vực (tạm dịch) Thuần Hệ (Pure CSR HD). Nơi đây tồn tại những thực thể (beings), hệ thống (systems), và kết nối (networks) mà không có sự hiện hữu của vật chất. Những thực thể này (trong đó có cái Tôi của người đã khuất) có năng lượng ý thức cao và có thể tương tác, tạo ra một tác động ảnh hưởng đến cơ cấu của thế giới vật chất trong QST.
Comment: Kiểu như các hiện tượng về lên đồng, ma nhập, v.v. Vẫn chưa biết được các thực thể cao đẹp hơn cư ngụ ở khu vực nào trong Siêu Hệ. Theo VDP, sắc pháp không chỉ gói gọn trong cái vật chất sờ nắm, thấy, ngửi thôi.
(Hết phần 10/11)
Ghi chú:
[1] https://en.wikipedia.org/wiki/Panpsychism
[2] https://www.innertraditions.com/author/chris-h-hardy;
https://independent.academia.edu/ChrisHHardy.
Trong video mà Tiến sĩ Hardy nói về thuyết ISST, bà có nói rằng đã thấy biết (awaken) này kia từ năm 18 tuổi. Bà có bằng tiến sĩ về Tâm lý Nhân Chủng Học (Ethnopsychology) và là nhà khoa học về nhận thức (cognitive scientist). Bà nghiên cứu về ý thức (consiciousness) của vũ trụ.
[3] Hardy, C.H., 2017. ISS theory: Cosmic consciousness, self, and life beyond death in a hyperdimensional physics. Scientific GOD Journal 8(5), 375–394. Hardy, C.H., 2017. Nonlocal consciousness in the universe: Panpsychism, psi and mind over matter in a hyperdimensional physics. Journal of Nonlocality: Special Issue on Psi and Nonlocal Mind, 1–21. Hardy, C.H., 1997. Semantic fields and meaning: A bridge between mind and matter. World Futures: Journal of General Evolution 48, 161–170. Sách ‘Cosmic DNA at the origin’ xuất bản năm 2015 có giải thích kỹ hơn về ISST này.
[4] https://en.wikipedia.org/wiki/Dark_matter
[5] https://www.hoasentrenda.com/smf/index.php?topic=17271.msg62965#msg62965
[6] https://en.wikipedia.org/wiki/Quantum_entanglement;
https://www.youtube.com/watch?v=ZuvK-od647c.
[7] Vậy vũ trụ này tồn tại và hoạt động theo một quy luật sẵn có (GR) hay mọi thứ đều chỉ mang tính xác suất mà thôi (QM).
[8] https://en.wikipedia.org/wiki/Rupert_Sheldrake;
https://www.youtube.com/watch?v=1TerTgDEgUE.
[9] Triết lý về Bốn Nguyên Nhân (Four Causes) của triết gia người Hy Lạp Aristotle, lý thuyết về sự Tương Ưng Đồng Thời (Synchronicity) của nhà phân tâm học người Thụy Sĩ Carl Jung và nhà vật lý học người Thụy Sĩ Wolfgang Pauli, hay Thuyết Trường Thông Tin (Semantic Field Theory) của chính Chris Hardy.
https://en.wikipedia.org/wiki/Aristotle#Four_causes;
https://en.wikipedia.org/wiki/Carl_Jung; https://en.wikipedia.org/wiki/Wolfgang_Pauli.
[10] Khả năng thấy biết này đúng hay sai, do tự lực hay tha lực như thế nào, Ba không dám lạm bàn vì không biết.
[11] Mặc dù dãy số Fibonacci lớn dần vô tận nhưng số lựơng vòng xoắn trong ISST là gần như vô tận (quasi-infinite, rất lớn nhưng vẫn có một giới hạn nào đó thôi). Hơn nữa, trong mỗi hình vuông chứa đựng khúc quanh Fibonacci là một hình tròn với bán kính bằng ½ cạnh của hình vuông đó. Chu vi của vòng tròn này tỉ lệ với bán kính của khúc quanh Fibonacci tương ứng bằng hằng số pi (p = 3.1416).
https://en.wikipedia.org/wiki/Golden_ratio;
https://en.wikipedia.org/wiki/Fibonacci_number;
https://www.youtube.com/watch?v=2VtYyHx77cs.
[12] Đơn vị lượng tử thấp nhất mà các nhà khoa học có thể biết được là hệ số Planck (Planck scale) do nhà vật lý học người Đức Max Planck tìm ra. Chẳng hạn, 1 đơn vị thời gian Planck (Planck time) bằng 5.39*10-44 giây, và 1 đơn vị chiều dài Planck (Planck length) bằng 1.616*10-35 mét.
https://en.wikipedia.org/wiki/Planck_units.
[13] https://soha.vn/bi-mon-do-hoi-thuc-duc-phat-ke-cau-chuyen-mui-ten-tam-thuoc-doc-khien-anh-ta-ngo-ra-tat-ca-20190726145106218.htm

