C. Các yếu tố thu hút sự chú ý (Determinants of attention)
Có vẻ như việc loại bỏ tâm con khỉ và thu hút sự chú ý vào đề mục đều có cùng một cách giải quyết. Đúng vậy, cách này nằm trong chính sự chú ý, người bạn đồng nghiệp (Working Memory, WM), và các yếu tố tác động lên nó.
1. Phân loại chú ý[1]
Như Ba đã trình bày ở phần trước, sự chú ý có một số đặc tính: số lượng, chất lượng, và hiệu quả phát sinh.
+ Nếu dựa trên số lượng đối tượng quan sát thì có thể chia sự chú ý thành 2 dạng: thụ động (passive) và chủ động (active). Khi sự chú ý càng cao thì bắt buộc nó phải giảm đi số đối tượng cần quan sát vì nếu không, người bạn WM sẽ bị quá tải vì phải xử lý quá nhiều thông tin. Đây là sự chú ý mang tính chủ động mà mình nhắm vào khi tập định. Khi sự chú ý thụ động, lè phè thì các thông tin (âm thanh, hình ảnh) có thể đến, đi khỏi WM mà không làm nó quá tải vì các thông tin này không cần phải được xử lý rốt ráo. Chúng chỉ như khách du lịch vậy thôi.
+ Nếu dựa trên chất lượng thì sự chú ý có thể chia làm 2 loại: trực diện (overt) và không trực diện (covert). Khi chú ý đến một đối tượng thì có 2 thứ xảy ra: mắt nhìn hướng vào đối tượng và sự suy xét đối tượng. Nếu như cả nhìn và suy xét chặp lại làm một và diễn ra trên đối tượng thì đây là sự chú ý trực diện với chất lượng tốt nhất. Khi bắt đầu có sự lệch pha, mắt nhìn vào đối tượng nhưng lại suy nghĩ, xét đoán cái gì khác ngoài đối tượng (vd. ngồi học nhìn cô giáo mà tơ tưởng bạn nữ nào đó) thì đây là sự chú ý không trực diện với chất lượng kém.
+ Hệ quả phát sinh của sự chú ý có lẽ tùy vào việc có xác định hay không xác định mục tiêu cụ thể của việc tập. Tập để nhập định, để thấy cảnh giới, để giải thoát, v.v. Tất nhiên, Định luật Tương Ưng sẽ có tiếng nói quyết định.
2. Yếu tố tác động
Như vậy sự chú ý chủ động, trực diện, và có mục tiêu rõ ràng là loại mình cần dùng trong thiền định. Và loại này chịu sự tác động (hay được kích hoạt một cách) mạnh mẽ bởi những yếu tố sau đây:
+ Độ khó, phức tạp của đối tượng, vấn đề đang cần suy nghĩ, hoặc bài toán đang làm.
+ Mục tiêu cần đạt được. Ví dụ, mình cần làm phép tính này cho xong để chuyển qua phép tính khác, hoặc mình đặt mục tiêu phải làm xong bài toán trong vòng 2 phút (áp lực thời gian).
+ Sự yêu thích, quan tâm đến đề mục. Chẳng hạn, mình thích thử thách, giải các bài toán khó và mình muốn xem cái bài toán sẽ đi đến đâu.[2] Lưu ý là thích làm toán dễ thì cũng là thích nhưng chẳng làm WM quá tải được.
+ Lợi ích. Việc gì đó có mang lại lợi lộc cho mình thì cũng gây sự chú ý.[3] Tất nhiên, trong tập thiền thì mình không đề cập đến tiền bạc được. Nghĩ về lợi lạc ở đây là được nhập định, hưởng cái trạng thái nhẹ nhàng, tĩnh lặng (để sau này còn đạt được sự thanh tịnh cao hơn thế nữa: yếu tố Santi).
+ Ý chí, quyết tâm, nỗ lực, và sự kiên trì cũng là những yếu tố rất quan trọng để gom tâm, hướng sự chú ý vào đối tượng. Khi sự chú ý càng mạnh thì độ tập trung càng cao, càng vững. Lúc đó, mình sẽ dễ dàng bỏ qua các kích thích gây phân tâm (bên trong và bên ngoài).[4]
3. Trí nhớ Làm Việc (WM)
WM và sự chú ý là 2 thành phần chủ chốt trong hoạt động tâm lý và nhận thức của mình. Kiểu dạng như cánh tay phải và tay trái vậy. Nếu như phần nổi của tảng băng ý thức (i.e. Trí nhớ Ngắn hạn) là nơi lui tới yêu thích của các tâm con khỉ thì WM và sự chú ý là quản gia của nơi đó vậy. Trong khi WM phụ trách việc xử lý và lưu trữ thông tin (ngắn hạn), sự chú ý chọn lọc thông tin để tiếp nhận, và duy trì tính liên tục trong quá trình WM xử lý thông tin. WM có một giới hạn nhất định, gọi là tải[5], và giới hạn này tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Đáng chú ý rằng, các yếu tố chi phối tải của WM lại có nhiều tương đồng với các yếu tố thu hút sự chú ý.
Lý thuyết Tải Nhận Thức (Cognitive Load Theory) và Lý thuyết Can thiệp (Interference Theory)[6] đề cập tới nhiều yếu tố chi phối tải của WM và khả năng nhớ lại. Có một số yếu tố chính như sau:
+ Áp lực thời gian để làm xong một công việc, một bước tính toán nào đó.
+ Các yếu tố dư thừa cho công việc cần làm (vd. màu sắc của các số trong bài toán) nhưng lại buộc phải nhớ.
+ Tính quen thuộc của thông tin, công việc đang xử lý.
Càng lạ thì càng khó nhớ.
Hết phần 3/5
Ghi chú:
[1] Xem thêm về sự chú ý trong bài Scientific Meditation.
[2] Xem Navalpakkam, Kumar, Li, and Sivakumar, 2012. Attention and selection in online choice tasks. Springer-Verlag Berlin Hedkelberg.
[3] Xem Anderson, Laurent, and Yantis, 2011. Value-driven attentional capture. PNAS 108(25), 10368–10371.
[4] Xem Sorqvist, Dahlstrom, Karlsson, and Ronnberg, 2016. Concentration: The neural underpinnings of how cognitive load shields against distraction. Frontiers in Human Neuroscience 10, 1–10. Sorqvist, Marsh, 2015. How concentration shields against distraction. Current Directions in Psychological Science 24(4), 267–272.
[5] Xem phần III trong bài Nhập Định_Tâm Lượng Tử để biết một số mô hình tính toán tải hay tốc độ thoái hóa của WM.
[6] Xem phần Lý thuyết Tải Nhận Thức trong Scientific Meditation và phần Lý thuyết Can Thiệp trong Nhập Định_Tâm Lượng Tử để hiểu rõ hơn.