D. Phương trình nhập định
Ba tóm tắt lại các nội dung trong phần C như sau:
+ WM là nhà của tâm lăn xăn và nó có một giới hạn về không gian (tải) nào đó.
+ Sự chú ý chủ động và WM khi xử lý thông tin từ đề mục sẽ tạo ra tải, lấn chiếm dần không gian của tâm lăn xăn.
+ Cả sự chú ý và WM đều chịu ảnh hưởng, thu hút bởi một số yếu tố chung.
Vậy nếu như mình thay một đề mục tĩnh (vd. mặt trăng) bằng một đề mục động (vd. một dãy 7 con số), đồng thời áp đặt một số yêu cầu lên đề mục này (vd. bài toán cần tính) để tăng sự chú ý và áp lực lên WM, thì sự chú ý càng tăng và bị cột chặt vào đề mục (mà không được đi chơi với mấy con khỉ tâm[1]), tải của WM sẽ càng ngày càng nặng làm cho nhà, sân chơi của mấy khỉ con càng mất đi diện tích. Khi tải của WM đạt ngưỡng tối đa, WM không làm thêm bước xử lý thông tin nào được nữa.[2] Độ tập trung sẽ tốt và khoảng lặng xuất hiện. Lúc này, mình bỏ đề mục động và để cái tâm yên lặng như thế, càng lâu càng tốt.[3]
Vì thế, phương trình nhập định chuẩn hơn sẽ là:
Focus = A*Dynamic_Subject + (1 – A)*Mind_Monkeys
Trong đó Dynamic_Subject là một dạng đề mục động trung tính (vd. cộng các con số, chuyển đổi chữ ra số, ghép chữ và số, đổi màu các chữ, v.v.) và yêu cầu của đề mục này là mang những tính chất, yếu tố thu hút mạnh mẽ sự chú ý và có tác dụng làm tăng tải của WM.[4],[5]
Điều đặc biệt của phương trình nhập định này là nó hội đủ cả Tứ Đại trong đó. Như sau:
+ Đất (Pathavi). Nếu đất là nguyên tố của sự sống thì pathavi trong bài toán nhập định chính là các con số, con chữ. Chúng là đề mục, là nguyên tố của buổi tập nhập định. Pathavi có đặc tính giản nở, chiếm không gian thì các con số cũng có đặc tính đó khi mình sắp xếp, cộng trừ, hoặc khi vẽ chúng to hay nhỏ.
+ Nước (Apo). Nếu nước là nguyên lý của sự sống thì các bước tính, phép tính chính là tính chất nước hay nguyên lý của sự nhập định. Đặc tính của apo là sự liên kết và cái này cũng ẩn chứa trong bài toán vì bước tính trước liên quan đến bước tính sau, uyển chuyển tùy theo mình.
+ Lửa (Tejo). Lửa là yếu tố của sự sống. Tejo trong phương trình nhập định chính là sự chú ý. Nó thể hiện sự mạnh yếu, nặng nhẹ, căng giản của WM lên từng con số, bước tính của bài toán. Số này rõ hơn hay yếu hơn số kia tùy thuộc vào năng lượng của sự chú ý.
+ Gió (Vayo). Gió là biểu hiện của sự sống. Vayo trong phương trình nhập định là lạc và nhất tâm. Cả hai là biểu hiện của sự định tâm. Chúng thay đổi, chuyển động tùy vào chất lượng của sự định tâm. Khi mới bắt đầu tập, sự định tâm chưa có nên lạc và nhất tâm chưa xuất hiện. Khi độ tập trung cao lên dần thì cũng là lúc lạc và nhất tâm từ từ xuất hiện và mạnh mẽ lên.
Vậy đối với những tu sĩ đang tập theo một đề mục thiền hoặc niệm phật quán chấm đỏ thì sao? Chẳng lẽ không ai nhập định được hết. Ba không biết nên không nói được. Dù sao nếu muốn nhập định bằng cách hướng tâm vào đề mục tĩnh này thì đòi hỏi phải có một ý chí mạnh, niềm tin vững chắc, và yêu thích đề mục của mình. Nếu cứ kiên trì tập luyện hàng ngày (độ định tâm cũng sẽ tăng dần lên) và/hoặc chỉnh sửa đời sống bên ngoài cho thật tốt (để giảm thiểu tâm con khỉ) thì hy vọng cũng có thể nhập định được.[6] Tất nhiên, nghiệp lực và phước báu cũng đóng vai trò quan trọng nhưng mình đâu biết cụ thể nó là gì và nó không nằm trong tầm kiểm soát rõ ràng của mình. Ngoài ra, mình cũng có thể biến thể đề mục tĩnh một tí: chú ý vào các chi tiết của đề mục khi vẽ, hoặc vẽ câu niệm ra chỗ chấm đỏ, từng chữ một. Vì biến thể không nhiều nên có thể lại rơi vào tình trạng thích nghi dẫn đến chai lỳ, chán nản.
E. Kiểm soát tư tưởng liên tục
One’s ethics = A*Ethics + (1 – A)*habits
Trong đó:
+ Ethics (chữ E hoa) là Giới Luật (GL, Sila) của tu sĩ như ăn ngay nói thật, có hiếu, sống hiền. Ngoài ra, còn có không sát sanh và không tham ái.
+ ethics (chữ thường) là việc giữ giới trong đời sống hàng ngày của mình.
+ habits là những thói quen xấu, bất thiện làm trở ngại đến con đường hướng thượng của mình.
KSTTLT chính là việc chống lại mình, chống lại những thói quen đã có từ tiền kiếp. Nên việc này rất rất là khó. Theo phương trình trên thì làm sao để thu hút sự chú ý vào các GL đây vì GL không giống như bài toán nhập định mà mình có thể thay đổi tùy bữa được. Nếu có một kích thích (stimulus) nào đó xảy ra thì phản ứng (response) tức thời sẽ là theo thói quen vì đó là bản năng. Tự động nó sẽ nhảy vọt lên WM và chiếm lĩnh sự chú ý. Khi có thời gian để lựa chọn phản ứng thì nên hướng sự chú ý vào GL để điều chỉnh hành vi. Nếu trong cuộc sống có quá nhiều thứ lộn xộn rồi thì WM đã chứa quá nhiều thói quen xấu thì lấy đâu chú ý đến GL. Chỉ còn cách là giảm dần những lộn xộn đó, chủ động sắp xếp lại cuộc sống, tạo môi trường tốt, thông thoáng trên WM để sự chú ý có chỗ nhìn ngắm GL dễ hơn. Cách làm này là vừa ngăn chặn stimuli vừa chuẩn bị sẵn response bằng thiện chí.[7]
Hết phần 4/5
Ghi chú:
[1] Câu hỏi: Nếu như mình chú ý vào các tâm lăn xăn để làm nặng tải WM và đưa đến nhập định được không? Trả lời: Không thể vì đã gọi là lăn xăn thì tụi nó nhảy chỗ này, chỗ khác với cường độ mạnh yếu tán loạn hết thì lấy gì tập trung chú ý! Cho dù có nhập định được bằng một cái lăn xăn nào đó thì Định luật Tương Ưng sẽ đưa mình về một cảnh giới (i.e. Dục giới) tương thích với sự lăn xăn đó thôi.
[2] Xem trang 8 trong Fingelkurts and Fingelkurts (2014) - Attentional state_From automatic detection to willful focused concentration: “…individually, each neuronal assembly presents only a partial aspect of the whole object/scene/thought/concept, while the wholeness of ‘perceived’ or ‘imagined’ is brought into existence by joint (synchronized) operations of many functional and transient neuronal assemblies in the brain… synchronization of neuronal assemblies (located in different brain areas) that participate in the same functional act as a group – operational module (OM), e.g. executing a particular complex operation responsible for a subjective self-presentation of complex objects, scenes, concepts or thoughts. Any single OM thus signifies the binding of multiple sensory percepts or motor programs in a context-dependent way as a function of a saliency, priori knowledge and expectancies. It somehow ‘freezes’, and ‘classifies’ the ever changing and multiform stream of our cognition and conscious experiences.”. Rabinovich et al (PLOS, 2007) - Neural dynamics of attentional cross-modality control - có phát triển một mô hình tính toán khả năng kiểm soát (chất lượng của) sự chú ý tùy theo số lượng các đối tượng và cường độ kích thích của chúng.
[3] Xem trong Scientific Meditation and Nhập Định_Tâm Lượng Tử diễn tiến của một số buổi tập cụ thể. Ngoài ra một số suy tư về vấn đề sau khi nhập định cũng được nêu ra.
[4] Sự chú ý có thể được do lường bằng một số mô hình toán. Ví dụ, trong Vaswani et al (2017) - Attention is all you need, các biến trong các mô hình này: số thông tin (keys), yêu cầu cụ thể của từng thông tin (queries), và thông số của chúng (values). Những dữ liệu đầu vào này phù hợp với yêu cầu cho đề mục động mà Ba đề cập tới. Xem thêm Luong et al (2015) - Effective approaches to attention-based neural machine translation; Bahdanau et al (2016) - Neural machine translation by jointly learning to align and translate; và https://lilianweng.github.io/lil-log/2018/06/24/attention-attention.html.
[5] Theo anh Alpha, phương pháp tập theo mandala của Mật Tông cũng giúp nhập định thành công vì mỗi mandala có quá nhiều chi tiết để nhớ làm quá tải WM. Nhưng mandala lại không phải là đề mục trung tính mà dựa vào thần linh nên có thể dẫn đến một hệ quả nào đó. Hơn nữa, sau một thời gian tập thì vẫn sẽ bị lỳ vì đã quen với mandala đó. Bài toán thì có vô số, các hình số, chữ cũng nhiều và có thể từ nhiều ngôn ngữ khác nhau. Nên chuyện quen hay thích nghi với bài toán là không có.
[6] Ba nghĩ rằng thời Đức Phật Thích Ca người ta dễ nhập định bằng các đề mục tĩnh vì xã hội lúc đó đơn giản, không bị chi phối bởi quá nhiều thông tin như xã hội bây giờ. Những điều này làm giảm đáng kể tâm con khỉ. Hơn nữa khi họ có thời gian để nặn cục đất, nhìn nó, trước khi nhắm mắt tập thì họ cũng đã vận dụng được sự chú ý ở một chừng mực nào đó rồi. Đây là tính salience của cục đất thật.
[7] Xem bài Wellbeing và phần I trong Scientific Meditation.